Tin chi tiết

Thứ năm, 21:40 | 30/11/2017 GMT+7
Lịch sử cách mạng Việt Nam đã ghi nhận vai trò to lớn của Quân đội ta trong cuộc chiến tranh giải phóng và cả trong công cuộc xây dựng chế độ xã hội mới ngày hôm nay. Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (Báo cáo ngày 11/2/1952), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Quân sự là việc chủ chốt trong kháng chiến”

 

“QUÂN SỰ LÀ VIỆC CHỦ CHỐT TRONG KHÁNG CHIẾN”

 

Phan Tăng Tuấn

Học  viện Chính Chính trị  khu vực I

 

Lịch sử cách mạng Việt Nam đã ghi nhận vai trò to lớn của Quân đội ta trong cuộc chiến tranh giải phóng và cả trong công cuộc xây dựng chế độ xã hội mới ngày hôm nay. Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (Báo cáo ngày 11/2/1952), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Quân sự là việc chủ chốt trong kháng chiến” [1]. Theo Người, để đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn, phải chú trọng xây dựng và phát triển quân đội: “Chúng ta phải ra sức đẩy mạnh việc xây dựng và củng cố công tác chính trị và quân sự trong bộ đội ta. Phải nâng cao giác ngộ chính trị, nâng cao chiến thuật và kỹ thuật, nâng cao kỷ luật tự giác của bộ đội ta. Phải làm cho quân đội ta thành một quân đội chân chính của nhân dân. Đồng thời, phải phát triển và củng cố dân quân du kích về mặt: tổ chức, huấn luyện, chỉ đạo và sức chiến đấu. Phải làm cho lực lượng của dân quân du kích thành những tấm lưới sắt rộng rãi và chắc chắn, chăng khắp mọi nơi, địch mò đến đâu là mắc lưới đến đó” [2].

 

Chúng ta - mỗi người con đất Việt đều thấu hiểu rằng để Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo được trịnh trọng công bố trước quốc dân đồng bào, cũng như trước toàn thế giới, đó là kết quả của bao nhiêu xương máu đã đổ và hàng triệu tính mạng đã hy sinh của đồng bào Việt Nam trong các nhà tù, trong các trại tập trung, trên những hải đảo xa xôi, trên các máy chém, trên các chiến trường...; Là kết quả của bao nhiêu hy vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn 20 triệu nhân dân Việt Nam; là “tiếp nối bài thơ của Lý Thường Kiệt trên sông Như Nguyệt, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi,... thể hiện truyền thống bất khuất kiên cường của dân tộc Việt Nam trong công cuộc đấu tranh giành độc lập” [3] mà nếu mô tả nó thì “phải vẽ một thanh gươm và tô đậm một màu máu. Máu nhuộm đỏ ruộng nương nơi ta cầy cấy, máu nhuộm đỏ cầu ao nơi em ta giặt giũ hàng ngày, máu nhuộm đỏ mảnh sân nơi con ta nô đùa ngày bé. Dân tộc Việt Nam từ trong máu lửa mà đi lên, dân tộc ấy anh dũng biết nhường nào!” [4].

 

Mặc dù, phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh:“Quân sự là việc chủ chốt trong kháng chiến” tại Đại hội II của Đảng nhằm nhấn mạnh vai trò, nhiệm vụ của “quân sự trong kháng chiến” nhưng trong khuân khổ của bài viết này, tôi xin phép được tìm hiểu, phân tích ở góc độ: bên cạnh nhấn mạnh vấn đề “quân sự là việc chủ chốt trong kháng chiến” thì Hồ Chí Minh luôn tìm hết mọi cách để hòa hoãn có nguyên tắc, giữ hòa bình và nhân đạo,... cho tới khi không thể hòa hoãn, không còn nhân nhượng hơn được nữa mà buộc phải kêu gọi nhân dân nhất tề kháng chiến, buộc phải dùng tới bạo lực cách mạng của quần chúng, tới quân sự,...thì trong tư tưởng của Người vẫn thấm đẫm “mưu cầu nhân đạo, hòa bình” cho cả 2 phía: dân tộc Việt Nam và những người bên kia chiến tuyến - những kẻ đi xâm lược.

 

Ta nhớ rằng, ngay sau tuyên bố trịnh trọng (ngày 02/9/1945) với dân tộc và toàn thế giới về quyền bình đẳng thế giới của dân tộc, quyền mưu cầu tự do sung sướng của nhân dân và tuyên bố quyết tâm cao nhất của dân tộc Việt Nam để giữ gìn độc lập tự do ấy, là những tuyên bố danh thép khác của Hồ Chí Minh: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”[5] “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi!” [6], “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, “Dù có đốt cháy cả dãy Trường Sơn, thì cũng phải quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” [7]... đã khích lệ, huy động mọi sức mạnh của dân tộc Việt Nam đánh thắng các đế quốc to, hùng mạnh nhất thế giới và thời đại ở thế kỷ XX, giữ vững độc lập dân tộc và từng bước mang lại ngày càng nhiều hạnh phúc to lớn cho Nhân dân.

 

Người khẳng định: “Quân sự là việc chủ chốt trong kháng chiến”, “Trong cuộc đấu tranh gian khổ chống kẻ thù của giai cấp của cả dân tộc, cần dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành chính quyền và bảo vệ chính quyền” [8].Bạo lực cách mạng ở đây là bạo lực của quần chúng, nghĩa là toàn dân vùng dậy đánh đuổi quân xâm lược. Và in đậm trong cá nhân tôi về Thiên tài quân sự lớn - Hồ Chí Minh chính là tư tưởng bạo lực cách mạng nhân đạo và hoà bình.

 

Hồ Chí Minh luôn xuất phát từ tình yêu thương con người, quý trọng sinh mạng con người mà Ngườiluôn tranh thủ mọi khả năng giành và giữ chính quyền ít đổ máu nhất. Người tìm mọi cách ngăn chặn xung đột vũ trang, tận dụng mọi khả năng giải quyết xung đột bằng biện pháp hoà bình, chủ động đàm phán, thương lượng, chấp nhận nhượng bộ có nguyên tắc. Việc tiến hành các hội nghị Việt - Pháp và ký các Hiệp định trong năm 1946, việc kiên trì yêu cầu đối phương thi hành Hiệp định Giơnevơ thể hiện rõ tư tưởng nhân đạo và hoà bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

 

Trả lời phỏng vấn của Báo Franc-Tireur, Người nói: “Tôi không muốn trở về Hà Nội tay không. Tôi muốn khi trở về nước sẽ đem cho Việt Nam những kết quả cụ thể với sự cộng tác chắc chắn mà chúng tôi mong đợi ở nước Pháp...Về phần chúng tôi, chúng tôi quyết định bảo đảm cho nước Pháp những quyền lợi tinh thần, văn hoá và vật chất, nhưng trái lại nước Pháp phải bảo đảm nền độc lập của chúng tôi” [9].

 

Ngày 10-6-1947, được tin tướng Raoul Xalăng - người đã từng tháp tùng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến sang thăm nước Pháp năm 1946 - vừa được cử làm Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương, thay cho tướng J.Valluy, Cụ Hồ liền gửi cho R. Xalăng một bức thư, trong đó có đoạn viết:

 

Tướng quân thân mến,

...Chúng ta từng là những người bạn tốt…Nhưng hoàn cảnh ngoài ý muốn đã biến chúng ta thành hai kẻ đối địch. Điều đó thật đáng tiếc!…

Về phần tôi, bổn phận thiêng liêng của một người dân yêu nước buộc tôi phải chiến đấu vì Tổ quốc và đồng bào mình. Còn về phía Ngài, trách nhiệm quân nhân cũng buộc Ngài phải làm những điều mà trái tim Ngài không muốn.

...Vì chúng tôi đã buộc phải chiến đấu, thì các ngài hãy tỏ ra là những chiến binh hào hiệp, những đối thủ quân tử, trong khi chờ đợi chúng ta lại trở thành bạn hữu của nhau. Chúng ta đã từng là bạn. Giữa hai chúng ta hiện nay vẫn là bạn bè của nhau. Ngài muốn như vậy chứ?

Vì tình yêu thương con người, lòng nhân đạo và nhân danh tình bạn của chúng ta, tôi yêu cầu ngài nghiêm cấm binh lính Pháp sát hại dân lành, hãm hiếp phụ nữ, đốt phá làng mạc và phá huỷ nhà thờ, đền miếu như họ vẫn làm từ trước tới nay.

Tôi đảm bảo với ngài rằng binh lính và thường dân Pháp ở chỗ chúng tôi được đối xử rất tử tế. Tôi hy vọng người của chúng tôi trong tay các ngài cũng được đối xử như vậy” [10].

 

Trên thế giới, hiếm có một bức thư nào gửi cho tướng giặc trước trận đánh lại được viết bằng một ngôn luận hòa ái, lịch thiệp, cao thượng, chính trực và có lòng nhân - Mưu cầu hòa bình đến như vậy. Từ bạn hữu, buộc phải thành địch thủ, thì hãy chiến đấu một cách hào hiệp và quân tử, để sau chiến đấu sẽ trở lại là những người bạn. Đó mới thực sự là cuộc chiến đấu của những hiệp sĩ chân chính, vì những mục tiêu cao cả chứ không vì hận thù dân tộc hay cá nhân.

 

Hồ Chí Minh đã luôn nhắc nhở đồng bào và chiến sĩ ta cần nêu cao lý tưởng chính nghĩa, nhân đạo, hòa bình, phải có sự đối xử khoan hồng với tù binh và kiều dân Pháp, để “làm cho thế giới biết rằng ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người, cướp nước”. Một lần, đến thăm trại tù binh sau Chiến dịch Biên giới, thấy một đại úy quân y Pháp ở trần, đang run lên vì cái lạnh của núi rừng Việt Bắc, Cụ đã cới chiếc áo ngoài đang mặc, trao cho anh ta. Tinh thần nhân đạo của Cụ Hồ có sức cảm hóa sâu sắc, đã có không ít sĩ quan và binh lính Pháp phản chiến, bỏ ngũ hoặc chạy sang chiến đấu dưới ngọn cờ đại nghĩa của Hồ Chí Minh.

 

Việc tiến hành chiến tranh chỉ là giải pháp bắt buộc cuối cùng. Chỉ khi không còn khả năng hoà hoãn, khi kẻ thù ngoan cố bám giữ lập trường thực dân, chỉ muốn giành thắng lợi bằng quân sự, thì Chủ tịch Hồ Chí Minh mới kiên quyết phát động chiến tranh. Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến 1946 của Người có đoạn: “Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!

 

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” [11].

 

Kể cả, trong khi tiến hành chiến tranh, Người vẫn tìm mọi cách vãn hồi hoà bình. Trong kháng chiến chống đế quốc Pháp cũng như kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Người đã nhiều lần gửi thư cho Chính phủ và nhân dân hai nước này đề nghị đàm phán hoà bình để kết thúc chiến tranh.

 

Trong chiến tranh, “quân sự là việc chủ chốt”, nhưng đồng thời kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị. “Thắng lợi quân sự đem lại thắng lợi chính trị, thắng lợi chính trị sẽ làm cho thắng lợi quân sự to lớn hơn” [12]. Đấu tranh ngoại giao cũng là một mặt trận có ý nghĩa chiến lược nhằm thêm bạn bớt thù, phân hoá, cô lập kẻ thù, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của quốc tế: “vừa đánh vừa đàm”, “đánh là chủ yếu, đàm là hỗ trợ”. Đấu tranh kinh tế là ra sức tăng sản xuất, thực hành tiết kiệm, phát triển kinh tế của ta, phá hoại kinh tế của địch. “Chiến tranh về mặt văn hoá hay tư tưởng so với những mặt khác cũng không kém phần quan trọng” [13]. Về kháng chiến trường kỳ, trong thời kỳ chống Pháp Người nói: “Địch muốn tốc chiến, tốc thắng. Ta lấy trường kỳ kháng chiến trị nó, thì địch nhất định thua, ta nhất định thắng” [14].

 

Trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước Người ra Lời kêu gọi (17/7/1967): “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác có thể bị tàn phá, nhưng chúng ta nhất định phải đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” [15]. Hình thức của bạo lực cách mạng gồm cả đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang, nhưng phải “tuỳ tình hình cụ thể mà quy định những hình thức cách mạng thích hợp, sử dụng đúng và khéo kết hợp các hình thức đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị chocách mạng” [16],..

 

Dù sử dụng hình thức bạo lực cách mạng nào, phương pháp biện pháp cách mạng bạo lực nào, đánh vào lúc nào, đánh ở đâu thì Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt lợi ích của nhân dân, sinh mạng của con người lên trên hết, trước hết. Tư tưởng bạo lực cách mạng của Hồ Chí Minh, trước hết thống nhất với yêu hòa bình và chủ nghĩa nhân đạo. Suốt cuộc đời, Người cùng toàn Đảng, toàn dân phấn đấu cho mục tiêu cách mạng và hòa bình trong độc lập, tự do. Theo Người, dùng binh là việc nhân nghĩa, muốn cứu nước, cứu dân. Ngay khi phải dùng bạo lực cách mạng, chiến tranh cách mạng để chống lại chiến tranh xâm lược, Người vẫn muốn tránh chiến tranh, vẫn tìm mọi cách cứu vãn hòa bình. Người tuyên bố:

 

“Đồng bào tôi và tôi thành thực muốn hoà bình. Chúng tôi không muốn chiến tranh. Tôi biết là nhân dân Pháp không muốn chiến tranh. Cuộc chiến tranh này chúng tôi muốn tránh bằng đủ mọi cách. Chúng tôi tha thiết với nền độc lập, nhưng nước Việt Nam độc lập ở khối Liên hiệp Pháp.

 

Nước Việt Nam cần kiến thiết, nước Việt Nam không muốn là nơi chôn vùi hàng bao nhiêu sinh mạng. Nhưng cuộc chiến tranh ấy, nếu người ta buộc chúng tôi phải làm thì chúng tôi sẽ làm. Chúng tôi không lạ gì những điều đang đợi chúng tôi. Nước Pháp có những phương tiện ghê gớm, và cuộc chiến đấu sẽ khốc hại, nhưng dân tộc Việt Nam đã sẵn sàng chịu đựng tất cả, chứ không chịu mất tự do. Dù sao, tôi mong rằng chúng ta sẽ không đi tới cách giải quyết ấy.

 

Cả nước Pháp lẫn nước Việt Nam đều không thể phí sức gây một cuộc chiến tranh khốc hại, và nếu phải kiến thiết trên đống hoang tàn thì thật là một điều tai hại” [17].

 

Và khi “đều tai hại” đó xảy đến, trước sự hy sinh của chiến sĩ ta và tử nạn của binh sĩ Pháp, Hồ Chí Minhnói: “Tôi nghiêng mình trước anh hồn những chiến sĩ và đồng bào Việt Nam, đã vì Tổ quốc mà hy sinh tính mệnh. Tôi cũng ngậm ngùi thương xót cho những người Pháp đã tử vong. Than ôi, trước lòng bác ái, thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người” [18]. Có rất nhiều yếu tố, nhưng chắc chắn một điều, chính tình thương, lòng bác ái, khoan dung, độ lượng, cao thượng,... đã khiến Hồ Chí Minh dù có rất nhiều đối thủ - bên kia chiến tuyến song tuyệt nhiên không có kẻ thù. Vì người ta tôn trọng Cụ về trí tuệ lẫn phong cách; tài năng lẫn đức hạnh,...

 

Khi chiến tranh đã xảy ra, Hồ Chí Minh vẫn đề nghị: “Chính phủ và nhân dân Pháp chỉ cần có một cử chỉ công nhân độc lập và thống nhất của nước Việt Nam là chấm dứt được những tai biến này; hòa bình và trật tự sẽ trở lại ngay tức khắc”. Và ta nhớ rằng, trong cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Người luôn viết thư kêu gọi các bên ngồi vào Hội nghị hòa bình để giải quyết chiến tranh bằng thương lượng.

 

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đấu tranh chính trị và chiến tranh quân sự luôn gắn bó với nhau. Người khẳng định, mọi hoạt động quân sự phải đứng vững trên lập trường chính trị giai cấp công nhân, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện và trực tiếp của Đảng Cộng sản Việt Nam. Người chỉ rõ: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”[19]. Chính vì thế mà trong quân đội, từ đại đội trở lên đều phải có chính trị viên, chính ủy. Nghiêm chỉnh chấp hành sự lãnh đạo của Đảng là nguyên tắc cao nhất, là nhân tố quyết định sự trưởng thành, sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang.

 

Quan điểm“quân sự lấy chính trị làm gốc”, “quân sự phải phục tùng chính trị”, “chính trị phải đặt lợi ích của nhân dân và sinh mạng của con người lên trên hết, trước hết” là một nội dung cốt lõi của tư tưởng quân sự - bạo lực cách mạngcủa Chủ tịch Hồ Chí Minh, là nguyên tắc cơ bản có ý nghĩa chỉ đạo mọi lực lượng, mọi hoạt động quân sự của Đảng và nhân dân ta trong khởi nghĩa vũ trang và trong chiến tranh cách mạng. Đó là nhân tố quyết định làm nên những chiến thắng vẻ vang của dân tộc ở Hội nghị Giơ-ne-vơ, Hội nghị Pa-ri và nhất là Đại thắng Mùa Xuân năm 1975.  Chiến thắng này đã không diễn ra cảnh người Việt tàn sát lẫn nhau như kẻ thù đã từng tuyên truyền. Trái lại, chiến thắng này đã gìn giữ, bảo vệ tốt nhất tính mạng con người, tài sản của nhân dân, của đất nước. Đây là chiến công vĩ đại của dân tộc, là chiến thắng của ý chí cách mạng tiến công, chiến thắng của đường lối, phương pháp cách mạng đúng đắn, khoa học, nhân đạo, hòa bình đúng như nguyện ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

 

Tinh thần tư tưởng là cơ sở của sức mạnh chiến đấu. Dám chiến đấu, quyết chiến đấu thì chúng ta sẽ tìm ra cách thích hợp để chiến đấu và chiến thắng. Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là một kho tàng vô tận và quý báu để chúng ta không ngừng nghiên cứu, bổ sung để rút ra được những bài học thực tiễn quý giá trong xây dựng bảo vệ Tổ quốc và sẵn sàng chiến đấu chống lại bất kỳ kẻ xâm lược nào.

 

-----------------------------------------------

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]; [2], [12],[19]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, Tập 7, tr.29; tr.37; tr.221; tr.217.

[3] Xem Sổ tay tra cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Hải Phòng, 1999, tr. 205.

[4] Ý của nhà văn Nguyễn Trung Thành trong bài “Việt Nam - Đường chúng ta đi”.

[5], [7], [8], [15], [16]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, Tập 15, tr.627; tr.131; tr.391; tr.131; tr.391.

[6], [9], [11], [13], [14, [17], [18]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, Tập 4, tr.539; tr.323; tr.534;tr.366; 539; tr.526; 511.

[10] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, Tập 5, tr.169.

 

Phan Tăng Tuấn

Đăng nhập

Liên kết website

Thống kê

Đang trực tuyến:  24

Hôm nay:  1948

Hôm qua:  6652

Lượt truy cập:  26176